Tìm kiếm bài viết

Vườn quốc gia Bạch Mã và Ban quản lý rừng đặc dụng Bà Nà – Núi Chúa tăng cường phối hợp quản lý bảo vệ rừng và PCCR

Ngày 13/8/2019, tại Trạm kiểm lâm Khe Mỏ Rang, Vườn quốc gia Bạch Mã tổ chức Hội nghị ký kết Quy chế phối hợp “Về Quản lý bảo vệ rừng – phòng cháy, chữa cháy rừng” giữa Vườn quốc gia Bạch Mã và Ban quản lý rừng đặc dụng Bà Nà – Núi Chúa”.

Quy chế phối hợp được ký nhằm tăng cường công tác phối kết hợp giữa hai đơn vị để kiểm soát, ngăn chặn có hiệu quả các hành vi vi phạm trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng vùng ranh giới giữa Vườn quốc gia Bạch Mã và Ban quản lý rừng đặc dụng Bà Nà – Núi Chúa.

Nội dung chính của Quy chế phối hợp là tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật và ký cam kết bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng đối với các tổ chức, cá nhân, cộng đồng gần khu vực giáp ranh do hai đơn vị quản lý; phối hợp nắm bắt và thông tin kịp thời về các đối tượng phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác, mua bán, cất giấu, chế biến, vận chuyển gỗ, lâm sản hoặc các loài động vật hoang dã trái phép; phối hợp phòng ngừa, kiểm tra, truy quét và đấu tranh triệt phá các tụ điểm phá rừng, tàng trữ, mua bán, vận chuyển lâm sản trái pháp luật trên địa bàn; phối hợp xây dựng các tổ, đội chốt chặn, tuần tra bảo vệ rừng, PCCCR trong khu vực địa bàn giáp ranh và địa bàn quản lý của hai bên; hỗ trợ lực lượng, phương tiện, thiết bị, công cụ để ứng cứu khi có cháy rừng xảy ra hoặc  ngăn chặn các hành vi vi phạm khác trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng vượt quá tầm kiểm soát của mỗi bên. Phối hợp điều tra, xử lý vi phạm pháp luật về lâm nghiệp.

Ngoài ra Quy chế phối hợp cũng nêu rõ định kỳ 6 tháng luân phiên tổ chức họp giao ban và hàng năm tổ chức tổng kết công tác phối hợp nhằm đánh giá kết quả đạt được, những khó khăn, vướng mắc, đề ra biện pháp khắc phục cho hoạt động phối hợp trong thời gian tới hiệu quả hơn.

                                                         Kiều Ninh – Minh Tâm      

Đọc tiếp...

"Mãnh hổ" ngàn đêm không ngủ giữ rừng lim độc nhất ở Trường Sơn

Đó là ông Trương Quốc Đô, ở xã Tân Hóa, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình. Cánh rừng gỗ lim độc nhất quý hiếm mà ông Đô đang canh giữ, bảo vệ nằm ở đồi Cồn Lim, xã Tân Hóa, với diện tích hàng chục ha, nhiều cây có tuổi đời hơn trăm năm tuổi. Để có cánh rừng lim, để những cây gỗ quý bám chặt vào núi đá, gần 30 năm qua, ông Trương Quốc Đô đã đi hàng vạn km, hàng ngàn đêm không ngủ để thức canh cánh rừng gỗ quý.

Gắn bó tuổi thơ với rừng

Sinh năm 1951, tuổi thơ của ông Đô và bạn bè cùng lứa ở bản làng gắn với các chú bộ đội, gắn với cánh rừng Cồn Lim. Ngày ấy, đồi Cồn Lim cũng như bao mảnh rừng bạt ngàn dọc theo dãy Trường Sơn được người dân bản địa gọi là "Rừng bộ đội". Bởi cả cánh rừng này gắn bó với nhiều người lính đi qua Trường Sơn để vào chiến trường miền Nam.

Lên chín, lên mười bàn chân thoăn thoắt của cậu bé Đô đã dẫn đường các chú bộ đội qua cánh rừng này, qua vạt đồi kia, chỉ cho các chú bộ đội suối chỗ nào sâu, chỗ nào cạn để đi qua… Trong ký ức của ông Đô, rừng ở Cồn Lim ngày ấy có nhiều cây gỗ quý nhưng bị máy bay Mỹ quần thảo, đánh phá khiến nhiều cây bị chết, nhiều cây lim cổ thụ cũng không tránh khỏi.

Thấy nhiều chú bộ đội thường leo lên những cây lim cao nhất để quan sát rồi họp, rồi báo cáo, ông và đám bạn cũng làm theo, leo lên quan sát. Có hôm vừa leo lên ngọn cây máy bay Mỹ gầm rú ngay trên đầu, ông và đám bạn sợ chết khiếp, leo xuống thì thì sợ bị phát hiện, nên người cứng đơ bám vào ngọn cây đến nghẹt thở.

Năm nay gần tuổi 70 nhưng ông Trương Quốc Đô vẫn là "mãnh hổ" giữ rừng ở vùng miền sơn cước Minh Hóa. Lâm tặc nơi đây khi nhắc đến ông thường nói lảng tránh qua chuyện khác, bởi người ít thì từng bị ông đuổi chạy đứt hơn hàng chục km đường rừng, người nhiều thì không còn nhớ bao lần bị ông dí đánh, phải vứt cả cưa máy, cưa xăng giữa rừng già.

Nhiều lâm tặc rỉ tai nhau, sở dĩ họ luôn phải dè chừng, khiếp sợ mỗi khi xâm phạm vào rừng Cồn Lim, bởi bên cạnh sợ sức khỏe ông Đô, nhưng cái cốt yếu nhất là dù gia cảnh nghèo đói, khó khăn có lúc lâm vào túng quẫn nhưng ông Đô vẫn quyết giữ khu rừng như chính giữ sinh mệnh của mình.

Nhấp một ngụm nước chè xanh, ông Đô đưa mắt nhìn xa xăm tâm sự: "Ngày xưa đi đâu cũng gặp rừng, đi đâu cũng gặp đinh, lim, sến, táu, bốn loại gỗ quý hiếm, nhiều cây 5-7 người ôm, nhưng rồi theo thời gian gỗ rừng bị chặt phá dần. Tổ tiên chúng tôi, rồi đến cha mẹ chúng tôi, cuộc đời chúng tôi, con cái chúng tôi gắn với rừng nhưng nếu rừng không còn thì chúng tôi gắn với cái gì? Tôi xem rừng như máu thịt của mình. Giữ rừng, là giữ cho nhà nước và cũng là giữ cho chính mình, gia đình mình mà".

Muốn giữ rừng mà không có sức khỏe thì không thể giữ được, ông Đô nói vậy. Gần tuổi 70 nhưng đến bữa ăn ông thường gắng ăn dăm bát cơm, mỗi khi nghe tiếng cưa máy nghi phá rừng là ông bật dậy như mãnh thú lao vào rừng già.

Thân hình ông Đô rắn chắn, khỏe khoắn với nhiều động tác nhanh nhẹn không khác gì thanh niên trai tráng, cơ bắp tay, chân nổi lên cuồn cuộn của người lao động nhiều ở miền sơn cước. Tiếp xúc với ông, chúng tôi rất ấn tượng bởi ngoài việc hiếu khách thì ông còn có giọng nói ầm vang, điệu cười hảo sảng và khuôn mặt rất thân thiện.

Ông Đô kể, chiến tranh kết thúc, nhiều mảnh rừng bị bom đạn hủy diệt, nhiều cánh rừng bị cày xới, cây cối đổ ngổn ngang. Nhưng rừng bị "chảy máu" vì bom đạn không ăn thua gì so với tiếng cưa, tiếng búa của lâm tặc sau nhiều năm giải phóng.

Nhìn những cánh rừng gỗ lim, gỗ táu bị tàn phá, ông lo cánh rừng Cồn Lim rồi phải chung cảnh ngộ với những cánh rừng xa xa kia. May thay, năm 1993, khi Nhà nước có chủ trương giao đất, giao rừng cho người dân bảo vệ, điều mà ông Đô từ lâu đã ao ước từ lâu. Không chần chừ, ông tình nguyện nhận ngay gần 20 hecta để giữ, chăm sóc và bảo vệ. Gác mọi công việc, hằng ngày ông lên rừng tuần tra, tỉa cây dại bảo vệ rừng lim…

Gian nan cuộc chiến giữ rừng lim

Gần 30 năm trăn trở, chăm sóc của ông Đô, đến nay rừng Cồn Lim cây mọc tươi tốt, trở thành cánh rừng già với nhiều loại gỗ quý hiếm. Khu rừng Cồn Lim có nhiều cây lim cổ thụ với tuổi đời trên trăm năm, trị giá nhiều tỉ đồng. Ngoài ra, những cây lớn có đường kính to khoảng từ 0,5-1m được ông gìn giữ, coi sóc như là "báu vật".

Sở hữu rừng gỗ lim có giá trị lớn, nhiều lái buôn đã tìm đến nhà ông Đô để hỏi mua nhưng đều nhận được ở ông cái lắc đầu. Nhiều người hỏi mua không được thì dóm ngó, dọa đốn chặt cây rừng. Nhiều năm qua lâm tặc thâm nhập rừng không kể xiết khiến ông và con cháu không ít phen lao đao, vất vả để bảo vệ rừng. Cứ ban ngày có khách đến hỏi mua gỗ thì tối hôm đó và nhiều ngày sau ông Đô và con cháu trong nhà hầu như không dám ngủ để vào bảo vệ rừng.

Có buổi trưa, ông Đô vừa rời rừng về nhà đang ngồi ăn cơm thì nghe tiếng cưa máy xoèn xoẹt ở góc rừng. Thả vội bát cơm xuống, ông lại tức tốc chạy lên rừng, lần mò theo âm thanh tiếng cưa. Đến nơi thì phát hiện một nhóm lâm tặc gồm 3 người dùng máy cưa và các phương tiện khác chuẩn bị hạ một cây lim cổ thụ. Ông lao vào ôm lấy thân cây, nhóm lâm tặc lôi ông ra, ông lại lao vào ôm gốc cây.

Chúng đánh ông, ông gào lên như con hổ dữ canh rừng, rồi ông dùng cây rừng đánh lại. Chúng đánh ông đến ngất xỉu rồi bỏ đi. Mấy đứa con của ông thấy bố lên rừng lâu không quay lại ăn cơm nên đi tìm và phát hiện đưa ông về. Thỉnh thoảng một số lâm tặc thường lai vãng trước nhà ông để theo dõi, chúng nắm lịch xem ông có nhà hay không?

Có đi thăm hỏi con cháu, hay đi chơi đâu xa, vắng nhà không. Và khi biết ông vắng nhà là chúng vào rừng đốn trộm gỗ. Số lâm tặc hay là cà theo dõi này chẳng phải ai xa lạ, ông Đô biết nó, và chúng nó biết ông. Vì vậy phải làm sao để cảm hóa họ mới mong giữ được rừng. Nghĩ là làm, ông nằm trong nhà và cho con cháu phao tin ông đi chơi xa.

Nghe vậy nhóm lâm tặc mừng lắm, chúng vào rừng đốn gỗ lim. Khi lâm tặc xuất phát ông cũng men theo cây rừng bám theo và bắt được quả tang các đối tượng phá rừng. Ông phân tích việc bảo vệ rừng gỗ quý như thế nào, vì sao ông phải giữ…nhóm lâm tặc kia không chịu nghe, ông bắt trói 2 đối tượng vào gốc cây, đối tượng còn lại sợ bỏ chạy. Sau nhiều giờ khuyên giải, phần vì hiểu ra giá trị việc giữ rừng, nhưng phần nhiều là sợ nên đám lâm tặc hứa bỏ phá rừng, theo ông làm tình nguyện viên giữ rừng.

Dân làng vùng sơn cước Tân Hóa gọi ông Đô là Đô "hổ" bởi ngoài sức khỏe ít người địch nổi thì giọng nói ông cũng sang sảng, gầm vang. Bước chân ông đi khắp hàng chục hécta rừng để tuần tra, kiểm soát bao năm qua khiến ai cũng kính nể.

Suốt gần 30 năm giữ rừng, không biết bao nhiêu lần phải đối mặt với hiểm nguy, có lần ông từng bị độc cắn nguy hiểm đến tính mạng phải nghỉ ở nhà cả tháng trời nhưng ông không bao giờ nản chí, ông quyết bảo vệ từng cây rừng và trong nhiều lần đối mặt đó, lâm tặc nghe đến tên ông Đô "hổ" cũng phải khiếp sợ. Cứ thế, năm này qua năm khác, từ tờ mờ sáng, ông Đô khăn gói lên rừng đến khi trời nhá nhém tối mới trở về nhà.

Ông tâm sự những ngày vất vả nhất là vào mùa hè, nắng oi bức nên rừng dễ bị cháy, ông phải rảo quanh từng khoảnh rừng để kiểm tra thật kĩ. Hễ thấy người lạ vào rừng là ông đuổi ngay, còn người dân vào lấy củi khô là ông nhắc nhở cẩn thận như không hút thuốc, không đốt ong và sử dụng vật dụng dể cháy nổ và theo sát cử chỉ họ rồi mới yên tâm ra về.

Nhờ sự chăm sóc, bảo vệ chu đáo mà rừng ở Cồn Lim do ông Đô canh giữ, bảo vệ ngày càng phát triển tươi tốt. Trong rừng có hàng trăm cây lim vươn cao lên bầu trời, hàng ngàn cây nhỏ khác cũng đang vươn mình lớn dậy. Ngoài lim ra, trong rừng ông Đô còn có rất nhiều loại cây gỗ quý khác như cây đỏ lòng, ngát, trám có kích thước lớn nhỏ khác nhau. Ông Đô cho hay cả đời ông chỉ ở vùng đất này, chẳng thể đi đâu xa nổi vì cứ hễ đi xa rừng một hôm là thấy nhớ, lòng cứ đau đáu khôn nguôi

Ông Trương Quốc Đô nói rằng, dù khó khăn đến mấy ông cũng quyết không bán bất cứ một cây gỗ lim nào. "Tôi chỉ mong trời cho sức khỏe để canh giữ cho rừng Cồn Lim. Giữ rừng là giữ cho nhà nước, cho hậu thế mai sau. Ông Trần Mạnh Luật, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Minh Hóa ví von rằng ông Trương Quốc Đô như một "con hổ" giữa rừng Cồn Lim vậy. Nhờ uy tín, dũng mạnh và sự bảo vệ nghiêm ngặt của ông hàng chục năm qua đã khiến lâm tặc không dám vào rừng phá nên mới có thành quả như hôm nay.

Nguồn: Báo Dân Việt

 

Đọc tiếp...

Trồng rừng đổi vàng

Ông Lý Vang Sam (SN 1965) ở bản Piêng Cài, xã Chiềng Yên, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La đã trồng được cả trăm ha rừng. Sau 20 năm, rừng cây phát triển, mỗi khi nhà có công to việc lớn gì, ông chỉ cần bán một cây gỗ đi là có tiền tiêu rủng rỉnh. Nhiều cây gỗ tương đương cả cây vàng.

Tỉa 1 cây, trồng 10 cây

Lên Tây Bắc mùa này, điều đập vào tầm mắt là những quả đồi trọc nối dài tít tắp từ Hòa Bình cho tới Sơn La. Ấy vậy mà đi qua xã Chiềng Yên vẫn còn một mảng rừng xanh biếc. Đặc biệt là ở Bản Piêng sài do ông Lý Vang Sam làm Bí thư chi bộ hầu như không có đồi núi trọc.

Con đường bê tông vừa trải phẳng lì dẫn vào khu rừng tràn ngập cây to, cao sừng sững. Hương rừng thoang thoảng, làm dịu bớt cái nắng oi bức của mùa hè.

Gặp ông Sam bên bìa rừng, không ai nghĩ, người đàn ông Dao này đã làm được những việc phi thường. Ông Sam có nước da bánh mật, thân hình cao gầy, tóc đã ngả màu muối tiêu, nhưng nom còn tráng kiện lắm. Ông bước đi thoăn thoắt, giọng nói khỏe khoắn và ánh mắt rạng ngời lên niềm vui.

Nhắc đến rừng, như vui hơn, trên gương mặt người nông dân một nắng, hai sương tràn đầy hi vọng. “Ở với cây, với rừng là vợ chồng tôi cảm thấy hạnh phúc nhất” – ông Sam chia sẻ khu dẫn chúng tôi đi thăm rừng. Rừng vây quanh lấy ngôi nhà gỗ của ông Sam. Ba bề, bốn phía nơi nào cũng thấy cây cối dựng thành vách. Đám xoan đã 20 tuổi, thân cao tới 20m cứ nối nhau dài tít tắp. Hết rừng xoan đến rừng lát, rừng chò chỉ. Có những cây lát to hơn một người ôm. Dưới tán rừng là bạt ngàn cây sa nhân. Giống cây chỉ sống dưới tán cây to và là nguồn dược liệu quý giúp ông Sam có thu nhập rất ổn.

Ông Sam leo dốc nhanh như sóc. Đôi chân rắn rỏi đó đã đi mòn đất này để chăm sóc cho khu rừng mà ông dày công tạo dựng. 20 năm qua, gia đình ông kiên trì đào hố, trồng cây, phát tán cây. Và rừng đã trả ơn cho gia đình xứng đáng. Dừng lại bên câu lát đại thụ, ông Sam không giấu được niềm vui: “Cây lát này họ trả tôi 30 triệu đồng, nhưng tôi không đồng ý bán. Trong rừng của tôi hiện có nhiều cây như thế này mà tôi đếm không xuể”.

Cái thời bà con đổ xô trồng cây ăn quả, ông Sam vẫn kiên trì trồng cây, gây rừng. Ông cho rằng, trồng rừng chẳng bao giờ lo thiệt. Bây giờ rừng xoan, rừng lát, cho chỉ đều đã phủ màu xanh đất này. Mỗi cây xanh trong rừng giờ đều có thể quy ra vàng. Ông thích bán lúc nào chỉ cần “alo” một câu là thợ buôn gỗ xếp hàng đến. Từ khu rừng này hình thành đến nay đã ngoài 20 năm có lẻ, giờ ông Sam “sờ” vào chỗ nào cũng ra tiền. Sa nhân được mùa ông thu được nửa tỷ đồng, chưa kể đàn bò 50 con, nhà cần tiền thì bán.

Đi mỏi chân, chùn gối vẫn chưa hết đất của ông Sam. Cánh rừng nọ nối tiếp cánh rừng kia dài tít tắp. Ấy vậy mà ngày nào ông Sam cũng đi kiểm tra và ngắm cây. Khi tỉa đi một cây, ông Sam trồng thêm 10 cây. Nhờ đó mà khu rừng mỗi ngày một giàu đẹp hơn. “Cánh buôn gỗ làm nhà sàn, mỗi khi vào rừng rất thích đám xoan 20 năm tuổi, có cây họ trả cả chục triệu đồng, mà ở rừng của tôi có cả nghìn câu như thế” – ông Sam kể.

Nhìn xa trông rộng

Khu rừng của ông Sam ngày ngày tỏa bóng mát, mỗi cây rừng là một dấu tích mang đậm công sức của gia đình ông. Người đàn ông DAo này đã biết nghĩ khác và làm khác, thay vì phá rừng, ông lại đi trồng rừng.

Ấy là vào đầu những năm 90 của thế kỷ trước, Nhà nước có chủ trương giao đất, giao rừng, cây giống còn được chở tới tận trung tâm xã phát cho bà con trồng rừng như cây lát, xoan, chò chỉ. Khi đó nhiều người sống ở miệt rừng đã quen với cảnh cứ vào rừng là có cái ăn, nên chẳng ai nghĩ đến việc trồng rừng.

Ngồi trong căn nhà gỗ của gia đình, ông mơ tưởng về cái thời đại ngàn ngân nga tiếng lá cây xào xạc, tiếng suối chảy róc rách. Người Dao chỉ hạ vài cây gỗ khi làm nhà chứ không tàn sát rừng. Khi các gã lâm tặc ở miền xuôi lên đuỗ bà con chặt cây, bán gỗ, nhiều kẻ mờ mắt nghe theo, ngày đêm đốn hạ cây cổ thụ để kiếm bữa ăn. Rừng từng ngày chảy máu, tan hoang và sót xa. Chẳng ai ngăn nổi họ, chỉ đến khi rừng không còn gì khai thác họ mới chịu dừng lại.

Khi ấy ông Sam cứ lang thang qua hết ngọn núi làu đến ngọn núi khác rồi tự hỏi, bao giờ màu xanh của rừng mới trở lại xứ này? Và khi Nhà nước cho cây giống để trồng rừng, ông Sam đã không bỏ lỡ dịp này. Xã giao cho bao nhiêu đất ông nhận tất. bản thân các thành viên trong gia đình ông cũng phân vân vì gạo ăn khi đó còn chẳng đủ nói chi đến việc trồng rừng mà mấy chục năm sau mới có thu hoạch.

Yêu cây, yêu đất, nên ông đã động viên vợ con. trồng cây gây rừng chưa bao giờ là muộn cả. Ngày ngày, ông cùng vợ con gùi từng cây giống lên đồi cao trồng. Thấy vợ chồng ông chuyển xuống thung lũng trồng rừng xa trung tâm xã cả ngày đường, ai cũng cho là hâm dở. Có người còn bảo “lão Sam hâm dở này làm cái việc chở củi về rừng đó được bao lâu. Chẳng chóng thì chày cũng buông xuôi cho mà xem”. Bỏ mặc những lời qua tiếng lại, chí ông đã quyết là thực hiện cho bằng được.

Khu đồi trọc năm nào có mồ hôi của ông rơi xuống đã biến thành đồi cây. Sau mỗi năm, diện tích rừng cứ dần mở rộng. Ngày nối ngày, mùa nối mùa qua đi, chẳng mấy chốc vợ chồng ông Sam đã phủ xanh cả trăm ha đất. Có cây có rừng là nguồn động việc gia đình ông vượt qua gian khó. Khi cây đã dần phủ xanh đất trống đồi trọc, ông mạnh dạn đưa cây sa nhân vào trồng dưới tán rừng. Sau 3 năm, cây sa nhân cho thu hoạch. Chúng tôi nuôi dưỡng dưới tán rừng nên phát triển rất nhanh.

Nguồn: Báo Dân Việt

Đọc tiếp...

Chi cục Kiểm lâm Vùng IV: tiếp nhận 01 cá thể chim Già Đẫy JaVa

Ngày 09/05/2019 Chi cục Kiểm lâm vùng IV đã tiếp nhận, cứu hộ thành công 01 cá thể chim Già Đẫy JaVa (Leptoptilos Javanicus) do một gia đình tại xã EaKao, TP Buôn Ma Thuột giao nộp. Đây là loài thuộc nhóm thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm (nhóm IB theo Nghị định 06/2019/NĐ-CP ngày 22/01/2019 của Chính Phủ đã có hiệu lực thi hành từ ngày 10/03/2019). Sau khi tiếp nhận, cá thể chim Già Đẫy Java trên đã được bàn giao cho Vườn Quốc gia Yok Đôn để kiểm tra sức khỏe, giúp chim tập làm quen với môi trường tự kiếm ăn trước khi đủ điều kiện tái thả về môi trường tự nhiên.

Thế Phương – Chi Cục Kiểm lâm vùng IV

Đọc tiếp...

Cục Kiểm lâm kiểm tra công tác phòng cháy, chữa cháy rừng tại Điện Biên

Trong 2 ngày 22 – 23/4, đoàn công tác của Cục Kiểm lâm (Bộ NN- PTNT) do đồng chí Đỗ Quang Tùng, quyền Cục trưởng Cục Kiểm lâm kiểm tra công tác triển khai phòng cháy, chữa cháy rừng tại Chi cục Kiểm lâm (Sở NN- PTNT) tỉnh Điện Biên.

Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh, từ ngày 1 – 21/4, toàn tỉnh xảy ra 40 vụ cháy rừng tại 7 huyện Nậm Pồ (7 vụ), Điện Biên Đông (1 vụ), Tuần Giáo (1 vụ), Mường Ảng (5 vụ), Tủa Chùa (5 vụ); Điện Biên (18 vụ); Mường Chà (1 vụ) và TP Điện Biên Phủ (2 vụ).

Tổng diện tích các đám cháy 20,28ha, trong đó rừng phòng hộ 14,84ha và rừng SX 5,44ha. Khi phát hiện cháy rừng, chủ rừng, kiểm lâm địa bàn, chính quyền các địa phương đã thực hiện tốt phương châm “4 tại chỗ” để triển khai lực lượng, phương tiện chữa cháy. Đến nay, 100% các đám cháy đã được dập tắt. Hiện nay, Chi cục Kiểm lâm đang chỉ đạo các Hạt Kiểm lâm đi kiểm tra, đo đạc và thống kê diện tích rừng thiệt hại.

Tại buổi làm việc, ông Đỗ Quang Tùng ghi nhận, đánh giá cao tính chủ động trong công tác xây dựng kế hoạch, phương án phòng chống cháy rừng mùa khô năm 2018 – 2019 và sự cơ động, kịp thời của Ban Chỉ huy Phòng cháy chữa cháy rừng cấp huyện, xã đã sớm phát hiện và nhanh chóng triển khai ứng cứu, giảm tối đa diện tích rừng thiệt hại.

Thời gian tới, dự báo thời tiết khu vực Tây Bắc sẽ tiếp tục có nắng nóng kéo dài, nguy cơ xảy ra cháy rừng cao, đề nghị Chi cục Kiểm lâm tiếp tục làm tốt công tác tham mưu cho UBND tỉnh về công tác phòng cháy, chữa cháy rừng; làm tốt công tác dự báo để kịp thời phát hiện và chủ động ứng phó với các vụ cháy rừng trên địa bàn. Chỉ đạo quyết liệt các Hạt Kiểm lâm tham mưu và phối hợp với địa phương trong việc túc trực, cắt cử lực lượng cắm chốt tại các điểm có nguy cơ cháy rừng cao; sẵn sàng lực lượng, phương tiện để cơ động ứng cứu rừng khi xảy ra cháy.

Trong quá trình chữa cháy, phải đặc biệt đảm bảo an toàn về người và phương tiện chữa cháy. Đặc biệt, lực lượng kiểm lâm phải là lực lượng nòng cốt phối hợp với chính quyền địa phương, thôn bản tăng cường tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng cho người dân; hướng dẫn người dân quy trình kỹ thuật đốt nương để tránh cháy lan vào rừng. Đồng thời, xây dựng hòm thư tố giác tội phạm tại cộng đồng để người dân phát hiện, điện thoại cung cấp thông tin các đối tượng đốt rừng, phá rừng…

Nguồn: Báo Nông nghiệp Việt Nam

 

Đọc tiếp...

Bình Thuận: Chủ động phương án '4 tại chỗ'

Theo Chi cục Kiểm lâm Bình Thuận, tổng diện tích rừng của địa phương này là trên 370.000 ha; trong đó, hơn 150.000 ha nguy cơ cháy cao. Hiện ngành chức năng tỉnh Bình Thuận đang tập trung cao độ và triển khai phương án “4 tại chỗ”, đồng thời gấp rút củng cố Ban Chỉ huy bảo vệ rừng - phòng chống chữa cháy rừng (PCCCR) tại các địa phương huyện, xã có rừng và triển khai tập huấn công tác nghiệp vụ chữa cháy rừng.

Còn trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, mặc dù mùa khô năm nay đến muộn nhưng diễn biến phức tạp và nguy cơ xảy ra cháy rừng là rất cao, dự báo nguy cơ cháy rừng đang ở cấp 5. Nhất là mới đây, tại khu vực xã Đại Phước, huyện Nhơn Trạch vừa xảy ra cháy 5ha rừng và lan sang thiêu rụi cả chục căn nhà của người dân gần đó khiến các lực lượng ứng cứu rất vất vả.

Tại Khu di tích lịch sử - danh thắng núi Chứa Chan - chùa Gia Lào hiện cũng đang được cảnh báo là “điểm nóng” có nguy cơ xảy ra cháy rừng trong khu vực này ở cấp độ rất cao.

Trưởng BQL Khu di tích lịch sử - danh thắng núi Chứa Chan - chùa Gia Lào Lê Văn Nam chia sẻ: “Ở đây có các nguy cơ có thể dẫn đến cháy vì người dân lên núi bắt ong thường sử dụng lửa; lượng khách đi phượt hay dùng lửa để nấu nướng thức ăn trên đỉnh núi; việc đốt nhang, giấy vàng mã tại các chùa trên núi; người dân đốt lá điều!”.

Tại BQL rừng phòng hộ Xuân Lộc, thời điểm này, từ sáng sớm đến tối, các nhân viên của Ban quản lý rừng phòng hộ luân phiên nhau chạy xe máy vào rừng sâu để canh trực phòng, chống cháy. Trong khi đi tuần tra cũng kết hợp nhắc nhở tuyên truyền các hộ dân sinh sống trong lâm phận cùng phối hợp làm tốt công tác phòng cháy chữa cháy rừng; đồng thời mua sắm, sửa chữa trang thiết bị dụng cụ phòng chống cháy…

Ông Lê Việt Dũng, Phó chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đồng Nai cho biết: “Chúng tôi đang thực hiện nghiêm các biện pháp phòng chống, cháy rừng; kiểm tra chặt chẽ không để người và phương tiện tự do ra vào rừng tại những khu vực “điểm nóng” nhất là trong thời kỳ cao điểm về cháy rừng như thế này; nghiêm cấm tuyệt đối không được đốt lửa trong và ven rừng”.

Nguồn: Báo Nông nghiệp Việt Nam

 

Đọc tiếp...

Vườn quốc gia Cát Tiên tổ chức cuộc thi ảnh

Từ ngày 09/4/2019 đến hết ngày 31/10/2019, Công đoàn cơ sở Vườn quốc gia Cát Tiên tổ chức cuộc thi ảnh với chủ đề “Vườn quốc gia Cát Tiên – Vẻ đẹp muôn mầu”.

Cuộc thi được tổ chức nhằm khám phá những nét đẹp, giá trị độc đáo của Vườn quốc gia Cát Tiên; khuyến khích các cán bộ, đoàn viên công đoàn và người lao động của Vườn tham gia sáng tác, công bố các tác phẩm nhiếp ảnh về Vườn quốc gia Cát Tiên; giới thiệu, quảng bá tới công chúng các điểm du lịch, vẻ đẹp cảnh quan thiên nhiên, giá trị độc đáo, sự đa dạng của hệ động vật, thực vật tại Vườn quốc gia Cát Tiên.

Đối tượng dự thi là đoàn viên công đoàn, người lao động đang công tác, sinh hoạt tại Công đoàn cơ sở Vườn quốc gia Cát Tiên. Cuộc thi có 12 giải thưởng với tổng giá trị 6,7 triệu đồng.

Cuộc thi ảnh nằm trong các hoạt động nhằm hửng ứng phong trào thi đua trong năm 2019 chào mừng ngày lâm nghiệp Việt Nam (28/11/2019).

Văn phòng Tổng cục

Đọc tiếp...

Tuyên Quang đưa sản phẩm gỗ rừng trồng ra thị trường thế giới

Những năm qua, tỉnh Tuyên Quang có nhiều cơ chế, chính sách thu hút đầu tư, tập trung phát triển lâm nghiệp, coi đây là một trong những hướng kinh tế mũi nhọn của địa phương. Hướng đi ấy vừa khai thác được tiềm năng thế mạnh về đất rừng, vừa giúp người dân gắn bó với rừng, bảo vệ và phát triển rừng bền vững.

Trồng rừng theo tiêu chuẩn quốc tế

Sau ba năm thực hiện, đến nay trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang đã có hơn 20 nghìn héc-ta rừng trồng được cấp Chứng chỉ quản lý rừng bền vững của Hội đồng Quản lý rừng thế giới (FSC). Có chứng chỉ của FSC, giá bán gỗ nguyên liệu cao hơn từ 15 đến 20%. Giá trị của rừng được nâng cao, đời sống người làm rừng khấm khá hơn, không chỉ giúp thoát nghèo bền vững, mà còn mở ra hướng làm giàu; khẳng định hướng đi đúng trong phát triển lâm nghiệp thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh.

Xã Tiến Bộ (huyện Yên Sơn) có 668 hộ dân tham gia trồng rừng theo tiêu chuẩn FSC với tổng diện tích hơn 1.500 ha. Đây là một trong những xã đi đầu về trồng rừng theo tiêu chuẩn FSC trên địa bàn tỉnh. Điều đáng nói, người dân không thụ động chờ vào sự hỗ trợ của ngành chuyên môn, chính quyền địa phương để được cấp chứng chỉ rừng. Các hộ nông dân đã lập thành nhóm chủ động làm hồ sơ, thuê chuyên gia FSC đánh giá và đề nghị được cấp chứng chỉ rừng theo tiêu chuẩn quốc tế. Đây là điều mà xưa nay người trồng rừng ở địa phương nói riêng và tỉnh Tuyên Quang nói chung chưa từng làm.

Cùng các anh Nịnh Văn Lìn, trưởng một nhóm chứng chỉ rừng FSC của xã và anh Trần Văn Nhung thành viên của nhóm đi thăm rừng, chúng tôi thấy những quy chuẩn ngặt nghèo của FSC đã được nông dân ở đây thực hiện khá tốt. Suốt quá trình trồng rừng, người dân không sử dụng hóa chất; rừng được bảo vệ nghiêm ngặt, không có tình trạng săn bắt động vật hoang dã ở rừng FSC. Ngay cả khi khai thác rừng xong, công đoạn xử lý thực bì cũng được thực hiện theo đúng tiêu chuẩn như: Không dùng máy cày san ủi khiến đất bị nghèo dinh dưỡng; cỏ dại được phát dọn, tuyệt đối không đốt để bảo vệ thiên địch có lợi; không sử dụng hóa chất trong quá trình chăm sóc; rừng đến tuổi thì mỗi năm không khai thác quá 50% diện tích để không làm mất độ che phủ, tránh nguy cơ hạn hán, mưa lũ bào mòn đất màu; không tự ý mở đường vận chuyển và hoàn trả lại hiện trạng đất ban đầu trước khi đóng cửa rừng... Đây chỉ là một số trong 10 nguyên tắc và 56 chỉ tiêu của FSC đánh giá về rừng sản xuất. Để người dân thực hiện được những nguyên tắc, chỉ tiêu đó không phải chỉ một sớm, một chiều mà là cả quá trình, xuất phát từ điều căn bản nhất là người dân đã ý thức được giá trị của rừng với cuộc sống của chính họ.

Vất vả để có chứng chỉ FSC, nhưng đổi lại rừng của người dân đã có nguồn gốc rõ ràng và con đường đi của gỗ rừng trồng không còn gập ghềnh như trước. Anh Lìn cho biết, lượng gỗ của người dân khai thác được bán thô cho Công ty cổ phần Woodsland và Công ty cổ phần Giấy và bột giấy An Hòa. Hiện nay, nhóm hộ trồng rừng này đang tính đến việc mở xưởng chế biến gỗ theo tiêu chuẩn CoC (tiêu chuẩn chế biến gỗ thô của thế giới). Khi xưởng chế biến gỗ được thành lập, toàn bộ sản lượng gỗ khai thác của người dân sẽ được gia công trước khi xuất bán cho các công ty, qua đó làm tăng giá trị sản phẩm và lợi nhuận sẽ được phân chia bảo đảm cho cả trưởng nhóm và các thành viên.

Công Đa là xã thuộc Chương trình 135 của huyện Yên Sơn. Hiện, xã có 124 hộ dân trồng rừng theo tiêu chuẩn FSC với tổng diện tích hơn 448 ha thuộc địa bàn 11 thôn. Rừng được cấp chứng chỉ đã và đang giúp 124 hộ dân các dân tộc xã Công Đa vươn lên thoát nghèo bền vững với thu nhập hàng trăm triệu đồng trên mỗi héc-ta rừng. Gia đình ông Bùi Quang Chung, thôn Khuân Bén, xã Công Đa có 7 ha rừng trồng keo được cấp chứng chỉ FSC. Trước đây, do trồng tự phát, tự chăm sóc cho nên chất lượng cây keo không đều, hay bị sâu bệnh. Khi thu hoạch, giá bán cũng không ổn định, thường xuyên bị thương lái ép giá. Sau khi trồng rừng theo tiêu chuẩn FSC, rừng được quản lý bền vững hơn, đất đai được bảo vệ, hạn chế xói mòn, môi trường được cải thiện. Vừa rồi, gia đình ông khai thác hai lô rừng đầu tiên, với tổng diện tích 3,8 ha, trừ chi phí, ông thu lãi hơn 120 triệu đồng/ha. Ông Chung cho biết, ngoài việc được tập huấn, chuyển giao kỹ thuật trồng chăm sóc, mỗi mét khối gỗ khai thác ông còn được hỗ trợ 100 nghìn đồng, hơn nữa sản phẩm được bao tiêu toàn bộ, nghiệm thu xe gỗ nào là được thanh toán tiền ngay, không bị nợ.

Gắn quy hoạch với chế biến

Để phát huy lợi thế tiềm năng về kinh tế lâm nghiệp (KTLN), trong những năm gần đây, tỉnh Tuyên Quang đã ban hành và triển khai thực hiện nhiều chính sách hỗ trợ như: Đầu tư nâng cấp, xây dựng kết cấu hạ tầng; tích cực chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật ứng dụng vào sản xuất lâm nghiệp; quy hoạch vùng nguyên liệu cho các nhà máy để phát triển hợp tác, liên kết trồng rừng sản xuất nguyên liệu; luôn duy trì ổn định tỷ lệ che phủ rừng của tỉnh ở mức hơn 64%; thực hiện cấp chứng chỉ rừng theo tiêu chuẩn FSC và tập trung huy động nguồn lực đầu tư cho phát triển KTLN... Do đó, KTLN của tỉnh đã phát triển tương đối khá, giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp năm 2018 đạt hơn 1.064 tỷ đồng, tăng 6,8% so với năm 2017, bình quân giai đoạn 2013-2018 tăng 7,4%/năm.

Chỉ tính riêng giai đoạn 2016-2018, toàn tỉnh trồng được 35.417 ha rừng. Trong đó, rừng sản xuất: 33.674 ha, bình quân 11.806 ha/năm; khai thác gỗ rừng trồng được 2.432.356 m3 gỗ, bình quân khai thác được 810.785 m3 gỗ/năm; khai thác tre, nứa được 86.215 tấn. Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) lâm nghiệp cho các thành phần kinh tế, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn tỉnh được quan tâm chỉ đạo thực hiện. Đến nay, đã cấp GCNQSDĐ lâm nghiệp được 185.303 ha, với 106.065 GCNQSDĐ, trong đó: giao rừng được 10.112,06 ha trong số 10.544,16 ha, đạt 95,90% so với kế hoạch giao và cấp GCNQSDĐ đối với diện tích đủ điều kiện giao 8.050,57 ha trong số 8.222,44 ha, đạt tỷ lệ 97,91% so với kế hoạch. Do vậy, người dân và các thành phần kinh tế đã yên tâm sản xuất. Chính sách khoán bảo vệ rừng được tỉnh triển khai thực hiện đồng bộ. Trong giai đoạn 2016-2018, toàn tỉnh tổ chức giao khoán bảo vệ rừng theo chính sách tại Nghị định số 75/2015/NĐ-CP và Quyết định 38/2016/QĐ-TTg: Diện tích giao khoán ổn định 66.406,28 ha, kinh phí hỗ trợ 96,284 tỷ đồng; hỗ trợ bảo vệ rừng, diện tích: 10.081,8 ha, kinh phí 13,05 tỷ đồng. Tỉnh cũng sắp xếp, đổi mới các Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp Sơn Dương, Chiêm Hóa, Tuyên Bình, Yên Sơn thuộc tỉnh quản lý thành Công ty TNHH hai thành viên lâm nghiệp; cổ phần hóa Công ty TNHH một thành viên lâm nghiệp Nguyễn Văn Trỗi.

Đồng thời, Tuyên Quang tập trung thu hút được các nhà đầu tư lớn đầu tư vào lĩnh vực chế biến lâm sản trên địa bàn tỉnh. Hiện nay, có chín nhà máy chế biến lâm sản đã hoạt động và đang đầu tư, mở rộng, nâng cao công suất chế biến, như: Nhà máy giấy và bột giấy An Hòa công suất 1.300 mét khối mỗi năm; nhà máy chế biến gỗ của Công ty cổ phần Woodsland Tuyên Quang 680 nghìn mét khối mỗi năm; nhà máy sản xuất đũa tách của Công ty cổ phần Thương mại - Sản xuất - Xuất khẩu Phúc Lâm huyện Chiêm Hóa 10.000 mét khối mỗi năm; nhà máy sản xuất đũa tre, giấy đế và bột giấy huyện Na Hang 25 nghìn mét khối mỗi năm…

Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Giấy An Hòa Nguyễn Văn Anh cho biết, sản phẩm chủ yếu của công ty là bột giấy, giấy in, giấy viết và giấy phô-tô-cóp-py. Hiện nay, đơn vị có hai dây chuyền sản xuất bột giấy và giấy. Mỗi dây chuyền này đều có công suất là 140 nghìn tấn/năm. Sản phẩm chủ lực là giấy và bột giấy được tiêu thụ trong nước và 30% số sản phẩm được xuất khẩu đi các nước, như Ấn Độ, Mỹ, Xin-ga-po, Trung Quốc, các nước Đông - Nam Á và châu Âu, tạo việc làm cho hơn 800 lao động với mức thu nhập gần 7 triệu đồng/người/tháng và hàng chục nghìn lao động tham gia trồng rừng. Năm 2018, doanh thu của công ty đạt 3.000 tỷ đồng; nộp ngân sách nhà nước 170 tỷ đồng. Công ty đang đầu tư khởi công xây dựng thêm nhà máy sản xuất bột giấy công suất 150 nghìn tấn/năm, tạo thêm việc làm cho 300 lao động.

Đây cũng là một bước tiến trong sản xuất lâm nghiệp, xóa bỏ tình trạng trồng rừng theo kiểu nhận đất xí phần, người dân đã chuyển sang phát triển rừng bền vững, tạo ra sản phẩm có giá trị kinh tế cao, cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu; góp phần bảo vệ môi trường, đưa Tuyên Quang trở thành tỉnh phát triển khá trong khu vực mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2015-2020 đã đề ra.

Nguồn: Hải Chung, Báo Nhân dân 

 

 

Đọc tiếp...

Cà Mau: Thả loài ốc leo cây trong rừng ngập nước, bán 100 ngàn/ký

 

Hơn chục năm nay, từ cánh rừng giao khoán chăm sóc và bảo vệ, người dân nghèo biết tận dụng để nuôi ốc len. Từ những khó khăn ban đầu, nuôi ốc len đã trở thành nguồn thu nhập ổn định cho nhiều hộ gia đình. Để một lần tận mắt nhìn thấy những con ốc len được nuôi như thế nào, chúng tôi quyết định vào rừng tại ấp Tân Hải, thị trấn Cái Đôi Vàm, huyện Phú Tân (Cà Mau), nơi có tổ hợp tác nuôi ốc len từ rất lâu.

Đi sâu vào rừng, thật xa mới có 1 ngôi nhà vì những hộ được nhận giao khoán rừng ở đây đa số đều có từ 2-3 ha. Nhiều hộ cho biết, lợi nhuận từ việc nuôi ốc len tuy có nhưng còn tuỳ thuộc nhiều vào đồng vốn. Năm nào có vốn thả nhiều mà trúng giống tốt thì có lãi nhiều.

Những hộ nhận giao khoán rừng đa số là hộ nghèo. Có gia đình đã sống nơi đây trên 10 năm và không có ý định đến nơi khác, đơn giản vì cánh rừng ngập mặn này chính là nơi tạo ra sinh kế, giúp họ có thêm thu nhập.

Lúc nước ròng, con lạch nhỏ xíu nhô lên, phải nhìn thật kỹ mới thấy được con ốc nhỏ nằm dưới bãi sình. Anh Trần Hữu Nghị, Phó Chủ tịch Hội Nông dân thị trấn, người đồng hành cùng chúng tôi, có vẻ am hiểu tận tường cái “nết” của loài ốc len nên giải thích: “Muốn thấy được ốc nhiều phải vào ngay con nước lớn, ốc bò lên cây, nước ròng ốc lại bò xuống sình để tìm thức ăn, không quen mắt rất khó nhận ra”.

Đến cánh rừng đầu tiên trong tổ hợp tác, bà Tạ Kim Hiền và ông Nguyễn Văn Thống (Tổ trưởng tổ hợp tác nuôi ốc len) chuẩn bị xong đồ nghề để bắt đầu chuyến đi. Hai người nông dân nhanh nhẹn phóng một cái là qua được mé bờ bên kia. Hơn chục năm sống trong rừng và nuôi ốc len nên bà Hiền và ông Thống đi rừng thật điêu luyện.

Một tay cầm thùng, một tay bắt ốc, bà Hiền thông tin: “Vụ Tết vừa rồi được xem là một năm phấn khởi của bà con nuôi ốc len khi được mùa mà không mất giá. Có lúc giá ốc lên đến hơn 100.000 đồng/ký. Còn lúc thường chỉ cần từ 60.000-80.000/ký là đã có lời”.

Riêng bãi ốc của Ông Thống do thu hoạch vào dịp Tết nên còn lại chủ yếu là ốc nhỏ.. Ông Thống dẫn chúng tôi đến bãi ốc có nhiều ốc len con, rồi giải thích: “Ốc len cũng giống như sò huyết, vọp…, nếu bắt một lần thì không bao giờ hết, chịu khó bắt đi bắt lại mấy lần. Thời điểm thích hợp để thả ốc chính là từ cuối tháng 3 đến tháng 5. Sau khi thả khoảng 6-7 tháng là có thể thu hoạch”.

Ở lâu trong rừng, sống dựa vào thiên nhiên nên con người ngày càng gần gũi với chúng hơn, đặc biệt là loài ốc len. Chỉ cần nhìn con ốc trèo lên gốc cây cao hay thấp là người dân ở đây biết được hôm đó nước sẽ lên như thế nào mà biết đường tính toán dọn dẹp nhà cửa, tránh bị ngập. Quanh quẩn hơn 30 phút trong rừng mắm để tìm ốc, thu hoạch của bà Hiền và ông Thống cũng gọi là khấm khá.

"Hiện nay, giá trị thương phẩm của ốc len được nâng lên rất nhiều nên lợi nhuận ngày càng tăng", ông Thống cho hay. Giữa năm 2017 vừa rồi, mô hình nuôi ốc len được cán bộ nông nghiệp địa phương đưa lên tỉnh họp bàn để hỗ trợ nông dân sản xuất với tổng số vốn 200 triệu đồng. Vậy là niềm hy vọng lại đến với nông dân nghèo. Không bao lâu nữa cánh rừng này được tận dụng nhiều hơn, nuôi ốc len được nhân rộng, đi đôi với đó là lợi nhuận thu về cho bà con càng cao./.

Nguồn: danviet.vn

 

Đọc tiếp...

  VQG Bạch Mã tổ chức cuộc thi “Tìm hiểu về rừng và động vật hoang dã”  

Ông Nguyễn Vũ Linh, Phó giám đốc, trưởng ban giám khảo tặng quà cho các đội đạt giải

Ngày 27/11/2018, nhân dịp kỷ niệm 59 năm ngày Lâm nghiệp Việt Nam (28/11/1959 – 28/11/2018), nhằm tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về bảo vệ rừng, bảo tồn động vật hoang dã, về các mối nguy hại ảnh hưởng đến thiên nhiên, Vườn quốc gia Bạch Mã phối hợp với Huyện đoàn, phòng Văn hóa thông tin và hạt Kiểm lâm huyện Nam Đông tổ chức Hội thi “Tìm hiểu về rừng và động vật hoang dã” cho các đoàn viên thanh niên các xã Thượng Nhật, Thượng Lộ, Hương Phú và xã Hương Lộc thuộc huyện Nam Đông tỉnh Thừa Thiên Huế.

Hội thi được phát động từ ngày 15/10/2018, có bốn vòng thi đó là màn chào hỏi, thi hiểu biết kiến thức về rừng và động vật hoang dã, thi diễn kịch và hùng biện. Qua hơn một tháng chuẩn bị và luyện tập, các đội thi đã đem đến Hội thi những tiết mục đặc sắc, có ý nghĩa và thông điệp rõ ràng về bảo vệ rừng và bảo tồn động vật hoang dã.

Phần giao lưu với khán giả sinh động và tạo nhiều hứng khởi cho các cổ động viên tham gia, đặc biệt là phần giao lưu với người gọi chim trời “Trương Cảm”, các cổ động viên phải trả lời đúng tên của các lài chim và động vật do người gọi chim trời thể hiện. Với mục đích học mà chơi, chơi mà học được đan xen nhằm nâng cao hơn nữa nhận thức của các đoàn viên về bảo vệ rừng và bảo tồn đa dạng sinh học,…

Kết thúc cuộc thi, đội thi của xã đoàn Thượng Lộ đạt giải nhất, xã đoàn Thượng Nhật đạt giải nhì, xã đoàn Hương Phú đạt giải ba và xã đoàn Hương Lộc đạt giải khuyến khích

Hội thi đã kết thúc trong không khí vui tươi và phấn khởi, mong rằng với những kiến thức về rừng và động vật hoang dã được tìm hiểu trong Hội thi, các đoàn viên thanh niên sẽ có những suy nghĩ và hành động tích cực về bảo vệ rừng và động vật hoang dã, sẽ vận động người thân và công đồng cùng chung tay bảo vệ.

                                                                      Kiều Ninh – Minh Tâm

 

 

 

 

 

Đọc tiếp...
Tìm thấy 401 bài viết.