CHÚC MỪNG NĂM MỚI XUÂN CANH TÝ - 2020

Hội nghị Tổng kết hoạt động lâm nghiệp năm 2019, nhiệm vụ giải pháp năm 2020 các tỉnh khu vực phía bắc

Cập nhật ngày : 12/12/2019 06:01

Ngày 12/12/2019, tại Trường Đại học Lâm nghiệp, Tổng cục Lâm nghiệp đã tổ chức Hội nghị Tổng kết hoạt động lâm nghiệp năm 2019, nhiệm vụ giải pháp năm 2020 các tỉnh khu vực phía Bắc. Thứ trưởng thường trực Hà Công Tuấn dự và chỉ đạo Hội nghị.

Khu vực phía Bắc bao gồm 31 tỉnh (04 tỉnh vùng Tây Bắc, 13 tỉnh vùng Đông Bắc, 08 tỉnh vùng đồng bằng Sông Hồng và 06 tỉnh vùng Bắc Trung Bộ), có diện tích tự nhiên là 16,78 triệu ha, chiếm 50,70% diện tích toàn quốc; với tổng diện tích có rừng là 8.793.961 ha, chiếm 60,68% diện tích rừng cả nước.  Tỷ lệ che phủ rừng  bình quân các tỉnh khu vực phía bắc năm 2018 là 49,98%. Đây là khu vực có vị trí chiến lược và phát triển kinh tế -xã hội, an ninh – quốc phòng, có nhiều tiềm năng, lợi thế phát triển lâm nghiệp.

Tính đến tháng 11 năm 2019, các tỉnh phía Bắc phát hiện  5.912 vụ vi phạm các quy định của Luật Lâm nghiệp, giảm 662 vụ (tương đương 10%) so với cùng kỳ năm 2018. Năm 2019, thời tiết nắng nóng bất thường kèm theo hanh khô, hạn hán kéo dài xảy ra ở nhiều khu vực trên toàn quốc, trong đó, đặc biệt tại khu vực Tây Bắc vào tháng 4 và tháng 5; khu vực từ Thanh Hoá tới Thừa Thiên Huế vào tháng 6 và tháng 7 nên đã xảy ra nhiều vụ cháy rừng. Một số tỉnh xảy ra cháy gây thiệt hại tới rừng lớn như tại Điện Biên, Sơn La, Lai Châu, Quảng Trị, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế,...

Các tỉnh đã trồng 148.413 ha rừng, vượt 3,3% kế hoạch năm. Trong đó đã trồng 143.093 ha rừng sản xuất, tăng 4,09% kế hoạch năm. Trong đó 126.404 ha, chiếm 85% diện tích rừng trồng có kiểm soát nguồn gốc giống của lô cây con. Một số tỉnh đạt kết quả tốt như Cao Bằng (181%), Lai Châu (170%), Bắc Giang (168%), Thái Nguyên (163%), Quảng Trị (163%).

Sản lượng khai thác rừng trồng tập trung tại các tỉnh phía Bắc tiếp tục tăng. Đến tháng 11 năm 2019, khối lượng khai thác đạt 12,06 triệu m3 . Một số tỉnh có khối lượng khai thác cao như Nghệ An, Quảng Ninh, Tuyên Quang, Yên Bái. Nguồn nguyên liệu từ khai thác rừng trồng tập trung đã từng bước đáp ứng được yêu cầu cho sản xuất sản phẩm xuất khẩu. Giá trị xuất khẩu lâm sản của khu vực tiếp tục tăng.

Về dịch vụ môi trường rừng, 20/31 tỉnh phía Bắc có nguồn thu dịch vụ môi trường rừng đã đạt 1.195,8 tỷ đồng, trong đó Trung ương điều phối là 706 tỷ đồng; thu nội tỉnh là: 489,7 tỷ đồng. Đã giải ngân 1.608,9 tỷ đồng để góp phần bảo vệ 3,94 triệu ha rừng, trong đó: Nguồn tiền DVMTR năm 2018 giải ngân là: 1.474,6 tỷ đồng; năm 2019 giải ngân là: 134,2 tỷ đồng; Công tác giải ngân tiền DVMTR được thanh toán qua tài khoản, giao dịch điện tử đạt tỷ cao. Giải ngân nhanh chóng, thuận lợi tiết kiệm thời gian, công sức và minh bạch, phù hợp với thực tiễn

Như vậy, mặc dù còn nhiều khó khăn, các tỉnh khu vực phía Bắc đã quyết liệt, chủ động triển khai thực hiện Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng, về cơ bản, nhiệm vụ phát triển rừng các tỉnh phía Bắc đã hoàn thành, với nhiều chỉ tiêu vượt kế hoạch.

Bên cạnh đó, Hội nghị cũng chỉ ra những tồn tại và nguyên nhân. Tình trạng phá rừng trái pháp luật, đặc biệt là phá rừng tự nhiên để trồng rừng, khai thác lâm sản vẫn diễn ra ở một số nơi. Nhiều vụ việc diễn ra trong thời gian dài nhưng chưa kịp thời phát hiện, xử lý. Ở một số nơi, tiến độ giải ngân tiền dịch vụ môi trường rừng cho chủ rừng còn chậm, một số tỉnh chi chưa đúng đối tượng, mục đích. Chưa tạo được nguồn tài chính ổn định để thực hiện quản lý, bảo vệ rừng đặc dụng, bảo tồn thiên nhiên, còn phụ thuộc vào nguồn kinh phí phân bổ hàng năm, thiếu cơ chế chia sẻ lợi ích từ du lịch sinh thái, sử dụng môi trường rừng để phát triển dược liệu. Kết quả trồng rừng đặc dụng, phòng hộ đạt thấp. Các địa phương chưa thực sự quan tâm, đôn đốc chỉ đạo và hướng dẫn các chủ rừng xây dựng phương án quản lý rừng bền vững.

Đối với nhiệm vụ năm 2020, các tỉnh phía Bắc cần tiếp tục triển khai hiệu quả Chương trình mục tiêu phát triển Lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2016-2020. Cụ thể: Bảo vệ và phát triển bền vững đối với 100% diện tích rừng hiện có; Tăng cường công tác bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng; ngăn chặn và xử lý kịp thời, có hiệu quả các hành vi vi phạm quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, giảm tối thiểu 10% số vụ vi phạm và diện tích rừng bị thiệt hại so với năm 2019; Hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch phát triển rừng, kế hoạch trồng rừng thay thế; Quản lý chặt chẽ các dự án chuyển đổi mục đích sử dụng rừng trên toàn quốc, đặc biệt là các dự án chuyển đổi mục đích sử dụng rừng tự nhiên. Trồng khoảng 62.000 ha rừng tập trung. Tiếp tục thực hiện hiệu quả chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng để tăng nguồn lực cho bảo vệ và phát triển rừng, đẩy nhanh công tác giải ngân để chi trả cho chủ rừng; nghiên cứu, thí điểm mở rộng đối với các lĩnh vực có nhiều tiềm năng (du lịch sinh thái, cơ sở sản xuất công nghiệp,…). Tiếp tục thực hiện Kế hoạch triển khai Luật Lâm nghiệp; tổ chức tuyên truyền, phổ biến Luật Lâm nghiệp và các văn bản quy định chi tiết Luật lâm nghiệp. Nghiên cứu, đề xuất xây dựng Chương trình đầu tư phát triển lâm nghiệp giai đoạn tới; Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2045; Xây dựng Nghị định của Chính phủ về chính sách đầu tư bảo vệ và phát triển rừng, chế biến và thương mại lâm sản trong Lâm nghiệp. Đẩy nhanh sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các Công ty lâm nghiệp theo phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ.

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, Thứ trưởng thường trực Hà Công Tuấn nhấn mạnh 2020 sẽ là một năm bản lề quan trọng. Cùng với việc về đích các chương trình, kế hoạch và khởi động xây dựng các kế hoạch trong giai đoạn tiếp theo, thì ngành cũng hướng tới kỷ niệm 75 năm hình thành và phát triển. Thứ trưởng cũng yêu cầu các địa phương cần chủ động rà soát kế hoạch, chuẩn bị triển khai ngay từ đầu năm, theo phương hướng tăng trưởng cao dựa trên đà đang có nhưng phải bền vững.

Để thực hiện những nhiệm vụ trên, Hội nghị đã đề ra 05 nhóm giải pháp về cấp bách về bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng; thúc đẩy sản xuất lâm nghiệp; phát triển thị trường, thúc đẩy xuất khẩu; tiếp tục huy động các nguồn lực từ chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, hợp tác quốc tế, liên doanh, liên kết,... triển khai hiệu quả, đồng bộ Luật Lâm nghiệp và các cơ chế, chính sách lĩnh vực lâm nghiệp. tiếp tục thực hiện hiệu quả các chương trình, đề án đã được Chính phủ phê duyệt; ưu tiên các giải pháp về khoa học, công nghệ, gắn nghiên cứu với đào tạo và khuyến lâm, giữa sản xuất với chế biến và tiêu thụ sản phẩm.

Văn phòng Tổng cục